| Thông tin chung | |
|---|---|
| Mạng 2G | GSM 850 / 900 / 1800 / 1900 |
| Mạng 3G | HSDPA 850 / 900 / 1700 / 1900 / 2100 |
| Ra mắt | Tháng 12 năm 2011 |
| Kích thước | |
| Kích thước | 116.5 x 61.2 x 12.1 mm, 76 cc |
| Trọng lượng | 135 g |
| Hiển thị | |
| Loại | Màn hình cảm ứng điện dung AMOLED, 16 triệu màu |
| Kích thước | 480 x 854 pixels, 3.9 inches |
| - Mặt kính Gorilla chống trầy xước - Chống chói dưới ánh sáng mặt trời - Cảm ứng đa điểm - Cảm biến tự tắt màn hình - Cảm biến gia tốc tự xoay màn hình | |
| Âm thanh | |
| Kiểu chuông | Báo rung, nhạc chuông MP3, WAV |
| Loa ngoài | Có |
| - 3.5 mm audio jack - Công nghệ âm thanh Dolby Mobile - Hỗ trợ Dolby Headphone | |
| Bộ nhớ | |
| Danh bạ | Khả năng lưu các mục và fields không giới hạn, danh bạ hình ảnh |
| Các số đã gọi | Có nhiều |
| Bộ nhớ trong | 64 GB, 1 GB RAM |
| Khe cắm thẻ nhớ | microSD (TransFlash), hỗ trợ lên đến 32GB |
| Truyền dữ liệu | |
| GPRS | Class 33 |
| EDGE | Class 33 |
| 3G | HSDPA, 14.4 Mbps; HSUPA, 5.76 Mbps |
| WLAN | Wi-Fi 802.11 a/ b/g/n |
| Bluetooth | Có, v2.1 với A2DP, EDR |
| Hồng ngoại | Không |
| USB | Có, microUSB v2.0, hỗ trợ USB On-the-go |
| Chụp ảnh | |
| Camera chính | 8 MP, 3264x2448 pixels, Carl Zeiss optics, autofocus, dual LED flash |
| Đặc điểm | Geo-tagging, nhận diện khuôn mặt, chạm lấy nét |
| Quay phim | Có, 720p@30fps |
| Camera phụ | Có |
| Đặc điểm | |
| Hệ điều hành | MeeGo OS v1.2 (Harmattan) |
| Bộ xử lý | ARM Cortex-A8 OMAP3630 1 Ghz, PowerVRSGX530, TI OMAP 3630 chipset |
| Tin nhắn | SMS (threaded view), MMS, Email, Push Email, IM |
| Trình duyệt | WAP 2.0/xHTML, HTML, RSS feeds |
| Radio | Không |
| Trò chơi | Angry Birds Magic (NFC), Galaxy on Fire 2, Real Golf 2011, có thể tải thêm |
| Màu sắc | Đen, Đỏ, Xanh dương |
| Ngôn ngữ | Có nhiều |
| Định vị toàn cầu | Có, hỗ trợ A-GPS, Ovi Maps |
| Java | Có, MIDP 2.1 |
| - Chỉ hỗ trợ MicroSIM card - Tích hợp mạng xã hội - Chống ồn với mic chuyên dụng - La bàn số - TV-out (720p video) với cổng HDMI và composite - Nghe nhạc MP3/WMA/WAV/AAC/AAC+/eAAC+/FLAC - Xem video DivX/XviD/MP4/H.264/H.263/WMV - Ghi âm / Quay số / Ra lệnh bằng giọng nói - Xem tài liệu (Word, Excel, PowerPoint, PDF) - Chỉnh sửa hình ảnh / video - Nhập liệu đoán trước từ (Swype) | |
| Pin | |
| Pin chuẩn | Li-Ion 1450 mAh (BV-5JW) |
| Chờ | Lên đến 380 giờ (2G) / 450 giờ (3G) |
| Đàm thoại | Lên đến 11 giờ (2G) / 7 giờ (3G) Nghe nhạc lên đến 50 giờ |
Bất động như núi Thái Sơn - Gia Cát Lượng; Tâm tĩnh trí sáng (Lời Phật dạy). Đây là trang nhật ký cá nhân trên mạng của tôi, không muốn mọi người góp ý, bình luận,... xin cảm ơn!
Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012
Nokia N9 64Gb
Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011
Khái niệm về Hệ thống thông tin.
Hệ thống (định nghĩa khác) là khái niệm được xuất phát từ rất lâu trong tự nhiên như hệ mặt trời, hệ ngân hà, trong sinh học cơ thể người cũng là một hệ thống, trong vật lý hệ thống máy móc, trong hoạt động trao đổi như hệ thống thông tin. Một cách tổng quát hệ thống là tập hợp các thành phần liên kết với nhau, thể hiện qua một phạm vi, xác định các hoạt động kết hợp với nhau nhằm đạt đến những mục đích xác định. Một hệ thống gồm có 9 đặc điểm:
• Thành phần (component):
Một hệ thống được hình thành từ một tập hợp các thành phần. Một thành phần là một phần đơn giản nhất hoặc là sự kết hợp của những thành phần khác nhau còn được gọi là hệ thống con.
• Liên kết giữa các thành phần:
Một chức năng hay hoạt động của một thành phần liên kết một cách nào đó với chức năng hay hoạt động của những thành phần khác. Nói cách khác, đây chính là sự phụ thuộc của một hệ thống con vào một hệ thống con khác.
• Ranh giới (boundary):
Hệ thống luôn có một ranh giới xác định phạm vi hệ thống, bên trong ranh giới chứa đựng tất cả các thành phần, ranh giới giới hạn phạm vi của hệ thống, tách biệt hệ thống này với hệ thống khác. Các thành phần bên trong phạm vi có thể bị thay đổi trong khi đó các sự vật bên ngoài hệ thống đó không thể bị thay đổi.
• Mục đích (purpose):
Tất cả các thành phần trong hệ thống hoạt động với nhau để đạt được những mục đích toàn cục của hệ thống, mục đích này chính là lý do để tồn tại hệ thống.
• Môi trường (environment):
Hệ thống luôn tồn tại bên trong môi trường của nó, là mọi thứ bên ngoài ranh giới tác động lên hệ thống, trao đổi với hệ thống, tạo đầu vào cho hệ thống cũng như tiếp nhận đầu ra của hệ thống.
• Giao diện (interface):
Là nơi mà hệ thống trao đổi với môi trường.
• Đầu vào (input):
Tất cả các sự vật cung cấp cho hệ thống từ môi trường.
• Đầu ra (output):
Tất cả các sự vật mà hệ thống gửi tới môi trường, đây chính là kết quả vận hành của hệ thống. Một đầu ra của hệ thống luôn xác định các đối tượng môi trường mà hệ thống gởi tới.
• Ràng buộc (constraints):
Các quy định giới hạn ảnh hưởng tới xử lý và mục đích của hệ thống. Những ràng buộc này có thể xuất phát từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống.
Khái niệm về Hệ thống thông tin
a. Hệ thống thông tin:
Là một tập hợp gồm nhiều thành phần mà mối liên hệ giữa các thành phần này cũng như liên hệ giữa chúng với các hệ thống khác là liên hệ thông tin với nhau.
b. Các loại Hệ thống thông tin:
• Hệ thống thông tin tác vụ (Transaction Processing System-TPS)
• Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System MIS)
• Hệ hỗ trợ ra quyết định (Decision Support System DSS).
• Hệ chuyên gia (Expert System).
c. Biểu diễn Hệ thống thông tin:
Một Hệ thống thông tin được biểu diễn qua các đặt trưng: Các thành phần hệ thống thông tin và các mức mức nhận thức về hệ thống thông tin.
d. Các mức nhận thức về Hệ thống thông tin
• Quan niệm:
Hệ thống thông tin (HTTT) được biểu diễn ở mức độ logic, trừu tượng hóa, ở mức độ này HTTT chỉ thể hiện được là có những gì? Mà không mô tả nó thực hiện ở gốc độ vật lý, ngôn ngữ lập trình nào?
• Vật lý:
Mô tả HTTT một cách cụ thể với một môi trường được lựa chọn, do đó nó được mô tả liên quan đến các thiết bị tin học, phần cứng, phần mềm, ngôn ngữ cài đặt, mạng máy tính, cơ sở dữ liệu…
• Tổ chức:
Là mức mô tả trung gian giữa mức quan niệm và vật lý, xác định sự phân bố dữ liệu và xử lý trên các bộ sự lý, truyền thông giữa các bộ phận xử lý.e.
Trình tự mô hình hóa Hệ thống thông tin
f. Các thành phần của Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin được mô tả qua 5 thành phần: Dữ liệu, xử lý, con người, truyền thông. Trong đó thành phần dữ liệu và thành phần xử lý đóng vai trò quan trọng nhất và chiếm phần lớn nhất trong quá trình nghiên cứu và phát triển hệ thống.
• Dữ liệu:
Phản ánh khía cạnh tĩnh của HTTT bao gồm các dữ liệu thông tin lưu trữ và khai thác nhằm phản ánh trạng thái quá khứ, hiện tại và tương lai của doanh nghiệp, có thể phân chia dữ liệu thành 2 loại sau:
+ Dữ liệu tĩnh:
Là dữ liệu ít biến động, ít thay đổi và có chu trình sống dài trong hệ thống, nó phản ánh các đối tượng cấu trúc, tài sản, nhân viên, hàng hóa… của doanh nghiệp mà chúng ta thường gọi là danh mục. Ví dụ: danh sách nhân viên…
+ Dữ liệu biến động:
Là dữ liệu phản ánh các giao dịch xảy ra trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ. Các dữ liệu này thường biến đổi và có tần suất cập nhật cao, chu trình sống được xác định từ khi tạo mới cho đến khi hết báo cáo cuối cùng khai thác dữ liệu. Ví dụ đơn đặt hàng, hóa đơn, giao hàng, thu chi..
• Xử lý:
Phản ánh khía cạnh động của HTTT, mô tả quá trình thông tin được tạo ra, biến đổi và bị loại khỏi HTTT với các mục đích sau:
+ Sản xuất các sản phẩm thông tin mới dựa trên thông tin dữ liệu tồn tại dựa trên các dạng thức đã được xác định như các chứng từ (Hóa đơn, đơn đặt mua hàng,…) các báo cáo thống kê.
+ Cập nhật tạo mới, chỉnh sửa hoặc hủy bỏ một thông tin, dữ liệu.
+ Vận chuyên thông tin từ vị trí này sang vị trí khác ví dụ như: gửi một thông báo, đơn đặt hàng…
• Con người:
Là những người có vai trò trong việc điều hành và sử dụng HTTT được chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm người dùng:
Là những người sẽ sử dụng và khai thác HTTT bao gồm việc sử dụng phần mềm và xử lý thủ công.
+ Nhóm điều hành và phát triển HTTT:
Bao gồm các phân tích viên, thiết kế viên, lập trình viên,…có vai trò trong việc xây dựng và bảo trì hệ thống.
• Bộ xử lý:
Máy móc thiết bị dùng để tự động hóa xử lý thông tin bao gồm các thiết bị phần cứng như Server, PC…
• Truyền thông:
Các phương tiện và cách thức trao đổi thông tin giữa các bộ xử lý, tùy theo đặc điểm và qui mô của HTTT mà việc tổ chức truyền thông sẽ khác nhau ví dụ điện thoại, fax, LAN, WAN, Internet.
Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011
Công Tâm, Công Lương hay Công Thành.
Khổng Tử và chu kì sống của con người.
Trong chương “Vi chính” sách “Luận ngữ”, Khổng Tử nói:
“Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ”.
Dịch nghĩa:
“Hồi mười lăm tuổi, ta đã để hết tâm trí vào sự học; đến ba mươi tuổi, ta vững chí mà tiến trên đường đời; bốn mươi tuổi, tâm trí ta sáng suốt, hiểu rõ việc phải trái đạt được sự lý, chẳng còn nghi hoặc; qua năm mươi tuổi, ta biết mệnh trời, tức là lẽ đạo mầu nhiệm lưu hành trong thiên hạ; đến sáu mươi tuổi, những lời tiếng lọt vào tai, ta hiểu ngay, không cần tốn công suy nghĩ; đến bảy mươi tuổi, trong tâm ta dù có muốn điều gì cũng chẳng hề trái phép".
Những lời nói trên thể hiện tư tưởng về quy luật (chu kỳ) phát triển chung nhất của con người.
Khổng Tử. Ảnh minh họa
Đối với cuộc đời một con người, Khổng Tử đã đề xuất sáu chu kỳ sinh lý hay chu kỳ sinh mệnh cùng nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu tu dưỡng của mỗi chu kỳ. Có thể nói, đoạn văn trên là một bộ tự truyện, là sự phản tỉnh, là bản tổng kết, là những lời bộc bạch chân thực, là triết lý nhân sinh của Khổng Tử.
1. “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học”. Điểm mấu chốt, điểm cơ bản trong cuộc đời mỗi một con người là “lập chí”. “Chí” cũng tựa như hạt giống, có giống mới có thể nảy sinh rễ, thân, cành lá và hoa quả, mới phát triển thành cây cao bóng cả. “Chí” nói ở đây là mục tiêu theo đuổi, là điều tâm niệm không lúc nào rời. Chỉ có xác định rõ chí hướng, con người mới có thể dồn toàn tâm toàn lực theo đuổi chí hướng đó tới cùng. Khổng Tử mười lăm tuổi đã để hết tâm trí vào sự học, học những đạo lý cơ bản ở đời học “nhân”, “lễ” và “Thiên mệnh”, đó là sự nghiệp thiết thân trong suốt cả cuộc đời.
2. “Tam thập nhi lập”. “Lập” có nghĩa là thành đạt trên con đường học tập, hay nói đúng hơn là thấu hiểu những điều học tập, từ đó dẫn đến tin phục, hình thành niềm tin sắt đá. Niềm tin của Khổng Tử là “lễ” và “nhân”. “Lập” là trụ vững ở “Lễ” ở “nhân”. Điều gì không hợp “lễ chế”, không hợp “nhân đạo”, Khổng Tử kiên quyết gạt bỏ, khước từ.
3. “Tứ thập nhi bất hoặc”. “Lập” và “bất hoặc” là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau. “Lập” ở những điều học được, từ đó hành động có tiêu chuẩn; có tiêu chuẩn sẽ có thể “bất hoặc”; “bất hoặc” mới có thể kiên định thực hành. Một cuộc đời như vậy mới không do dự, hồ đồ, thiếu cương quyết, lúc nào đầu óc cũng tỉnh táo, sáng suốt, ung dung, kiên định.
4. “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh”. Nếu như muốn “bất hoặc” không những phải “lập”, mà còn phải tiến tới “tri thiên mệnh”, tức “biết mệnh trời”. “Thiên mệnh” nói ở đây tức “Thiên Đạo” hay “Đạo trời” chỉ quy luật của vạn sự vạn vật, chỉ tính tất yếu khách quan. “Tri thiên mệnh” tức biết rõ sứ mệnh của mình, biết rõ tính tất yếu khách quan, có nghĩa là thuận theo trào lưu tiến hóa, theo xu thế tất yếu của thời đại, như vậy con người sẽ từ vương quốc tính tất yếu bước sang vương quốc tự do, cho dù làm bất cứ việc gì cũng đều thuận lợi và đi đến thành công. “Tri thiên mệnh” - đó là một cảnh giới nhân sinh cao cả nảy nở trên cái nền “lập” và “bất hoặc” nói ở trên.
5. “Lục thập nhi nhĩ thuận”. Con người lúc còn trẻ vốn sống ít, kinh nghiệm không nhiều, hiểu biết còn nông cạn, nên nhìn thấy gì, nghe thấy gì đều thấy không vừa ý, đều thấy bực mình, khó chịu, chướng tai gai mắt. Nhưng lúc đã tới tuổi sáu mươi, đã thấu suốt hết mọi lẽ đời, sẽ hiểu được cái lý đương nhiên của mọi chuyện trong thế thái nhân tình, lúc ấy tự nhiên sẽ ngộ ra rằng “chẳng có gì là lạ cả”, không cắt nghĩa nổi, thành thử cảm thấy thanh thản, ung dung, thuận tai, vừa mắt. Đây cũng chính là sự minh triết của những bậc thánh nhân.
6. “Thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ”. Tới tuổi cổ lai hy, con người thấu suốt hết mọi lẽ đời, mọi việc mình muốn, mình làm đều hợp đạo, không gì trái luân thường đạo lý, không gì chệch ra ngoài khuôn phép, quy củ, tâm tính và đạo trời hợp nhất, việc gì ta làm chính là thực hiện đạo trời. Không có cái gì gọi là quy củ mà lại không quy củ. Nên hai chữ quy củ thực ra là mượn quy củ để nói không cần quy củ...
Cuộc đời của mỗi con người suy cho cùng là một chuỗi chu kỳ nối tiếp, một tiến trình phát triển không ngừng từ tính tất yếu sang vương quốc tự do, con người không bao giờ dừng lại ở một mức độ nào, cần luôn luôn đột phá, vươn lên, sáng tạo, nâng cao và đổi mới, tiến tới những cảnh giới cao hơn. Minh triết dân gian khẳng định: “Con người là sản phẩm do chính con người tạo ra từ bản thân mình!”.
Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011
Mục lục 83 bài về Đạo xử thế
- Đạo xử thế - Thay lời tựa; Bài 1!
- Bài 2; Bài 3 (Đạo xử thế).
- Bài 4, bài 5 (Đạo xử thế).
- Bài 6, bài 7 (Đạo xử thế).
- Bài 8; Bài 9 (Đạo xử thế).
- Bài 10; Bài 11 (Đạo xử thế).
- Bài 12; bài 13 (Đạo xử thế).
- Bài 14; bài 15 (Đạo xử thế).
- Bài 16; bài 17 (Đạo xử thế).
- Bài 18; bài 19 (Đạo xử thế).
- Bài 20; Bài 21 (Đạo xử thế).
- Bài 22; Bài 23 (Đạo xử thế).
- Bài 24; Bài 25 (Đạo xử thế).
- Bài 26; Bài 27 (Đạo xử thế).
- Bài 28; Bài 29 (Đạo xử thế)
- Bài 30; Bài 31 (Đạo xử thế)
- Bài 32; Bài 33 (Đạo xử thế)
- Bài 34; bài 35 (Đạo xử thế)
- Bài 36; Bài 37 (Đạo xử thế).
- Bài 38; Bài 39 (Đạo xử thế)
- Bài 40; Bài 41 (Đạo xử thế)
- Bài 42; Bài 43 (Đạo xử thế)
- Bài 44; bài 45 (Đạo xử thế)
- Bài 46; Bài 47 (Đạo xử thế).
- Bài 48; Bài 49 (Đạo xử thế)
- Bài 50; Bài 51(Đạo xử thế)
- Bài 52; Bài 53 (Đạo xử thế)
- Bài 54; Bài 55 (Đạo xử thế)
- Bài 56; Bài 57 (Đạo xử thế)
- Bài 58; Bài 59 (Đạo xử thế)
- Bài 60; Bài 61 (Đạo xử thế)
- Bài 62; Bài 63 (Đạo xử thế)
- Bài 64; Bài 65 (Đạo xử thế)
- Bài 66; Bài 67 (Đạo xử thế)
- Bài 68; Bài 69 (Đạo xử thế)
- Bài 70; Bài 71 (Đạo xử thế)
- Bài 72; Bài 73 (Đạo xử thế)
- Bài 74; Bài 75 (Đạo xử thế)
- Bài 76; Bài 77 (Đạo xử thế)
- Bài 78; Bài 79 (Đạo xử thế)
- Bài 80; Bài 81 (Đạo xử thế).
- Bài 82; Bài 83 (Đạo xử thế).
Đạo xử thế - Thay lời tựa; Bài 1!
Đạo xử thế
Chuyện lớn trong thiên hạ bắt đầu từ chuyện nhỏ.
Phải biết lấy việc nhỏ làm thành việc lớn, lấy điều nhỏ nhắn không đáng làm để làm thành điều lớn lao, biến cái vô vị thành cái có ý nghĩa. Phải giỏi lấy nhỏ làm lớn, lấy ít làm nhiều. Giải quyết vấn đề khó khăn phải bắt đầu từ chỗ dễ; thực hiện sự nghiệp lớn lao phải bắt đầu từ việc nhỏ. Việc khó trong thiên hạ nhất định bắt đầu từ cái dễ; việc lớn trong thiên hạ nhất định bắt đầu từ việc nhỏ. Bởi thế, thánh nhân không bao giờ tự cho mình là lớn, từ đó mới làm nên những điều vĩ đại. Một số người tuỳ tiện hứa hẹn với người khác, không giữ chữ tín, họ xem sự việc quá dễ dãi, tất phải gặp khó khăn; còn thánh nhân, thường chú trọng khó khăn cao độ, cho nên họ không bao giờ gặp bất cứ khó khăn nào.
Bài 2; Bài 3 (Đạo xử thế).
Đức hạnh cao cả giống như nước
Không có gì mềm yếu bằng nước, nhưng về sức công phá mạnh mẽ thì không có gì hơn được nó. Nhỏ yếu có thể chiến thắng lớn mạnh, mềm mỏng có thể chiến thắng cứng rắn, đạo lý này trong thiên hạ không ai không biết nhưng ít mấy ai thực hiện theo đó. Vì thế, thánh nhân có nói: "người gánh chịu nỗi khuất nhục của cả nước, mới có thể làm vua của một nước; người gánh chịu được mối tai hoạ của một nước mới có thể làm chúa tể thiên hạ".
Tĩnh tâm khổ luyện, bí mật thành công sẽ tự tìm đến.
Tốc độ của tên bay rất nhanh, nhưng tầm bắn lại không quá hai dặm, vì nó bay một đoạn sẽ dừng lại; tốc độ bước đi rất chậm, nhưng có thể đi đến mấy trăm dặm, vì bước đi không ngừng. Vô luận làm việc gì, điều quý ở chỗ kiên trì đến cùng, chỉ cần giữ được thái độ đó thì cho dù người bình thường có thể đạt được thành tích rất tốt.
Giả sử con hoẵng chạy nhanh như bay, ngựa đuổi không kịp, nhưng chẳng mấy chốc nó bị tóm, vì nó thỉnh thoảng quay đầu nhìn. Làm bất cứ việc gì, nhất là học tập, đều phải tập trung ý chí không được lơ đãng.
Con tuấn mã ngày vượt ngàn dặm, là nhờ chiếc xe nhẹ; vác nhiều chở nặng đi một ngày không đến vài dặm, vì vác chở quá sức. Bất luận làm việc gì, kể cả học tập, đều không được gánh vác quá sức, nếu không thì cho dù người có bản lĩnh đến đâu cũng sẽ bị gục ngã.